Theo dòng sự kiện

  • Home
  • Theo dòng sự kiện

Theo dòng sự kiện Cung cấp thông tin trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

23/06/2025

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC "VIỆT NAM THAM GIA CHẠY ĐUA VŨ TRANG, ĐI NGƯỢC LẠI CHÍNH SÁCH HÒA BÌNH"
Xuyên tạc đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta là thủ đoạn vô cùng nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Hiện nay, lợi dụng chủ trương củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới, các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền rằng “Việt Nam đang tập trung nguồn lực lớn cho quốc phòng, an ninh, nhất là chi ngân sách nhà nước để phát triển công nghiệp quốc phòng, mua sắm vũ khí, trang bị hiện đại, tạo ra cuộc chạy đua vũ trang, đe dọa đến hòa bình, ổn định ở khu vực, đi ngược lại chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ đã tuyên bố”.
Đây là luận điệu thù địch, xuyên tạc có chủ đích, vô căn cứ. Bởi lẽ:
Thứ nhất, chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ.
Tự vệ chính đáng là quyền tự nhiên của mọi quốc gia, dân tộc, được thừa nhận trong Điều 51 của Hiến chương Liên hợp quốc và tồn tại trong tập quán quốc tế. Trong bối cảnh tình hình hiện nay, tự vệ chính đáng của một quốc gia bao gồm những hoạt động cần thiết để phòng ngừa, chống trả những mối đe dọa, hành vi, hoạt động xâm phạm đến lợi ích chính đáng của quốc gia mình.
Là một dân tộc có truyền thống hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và tôn trọng luật pháp quốc tế, vì vậy, đặc trưng bản chất chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ. Điều này đã được công khai, minh bạch hóa trong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Điều 4, Luật Quốc phòng năm 2018 khẳng định: “Củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân, sức mạnh quân sự để xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới...; thực hiện chính sách hòa bình, tự vệ; sử dụng các biện pháp chính đáng, thích hợp để phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại mọi âm mưu và hành vi xâm lược”. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 nhấn mạnh: “Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ. Việt Nam phản đối các hoạt động chạy đua vũ trang”. Như vậy, chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ, chống chiến tranh, phản đối các hoạt động chạy đua vũ trang dưới mọi hình thức của Việt Nam đã luôn được khẳng định công khai, minh bạch, rõ ràng.
Những năm qua, Việt Nam phải đối mặt với những thách thức, mối đe dọa không nhỏ về quốc phòng, an ninh từ các thế lực thù địch, phản động. Trong bối cảnh đó, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới xác định quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền văn hóa và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; triệt tiêu các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; dập tắt nguy cơ xung đột, chiến tranh; giữ vững, củng cố môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước; đóng góp tích cực vào gìn giữ hòa bình thế giới.
Để thực hiện mục tiêu đó, tất yếu đòi hỏi Việt Nam phải có sự quan tâm, đầu tư đúng mức để củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo đảm đủ sức mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Ngoài mục đích đó, quốc phòng Việt Nam không có mục đích khác, không can thiệp vào công việc nội bộ, đe dọa hoặc xâm lược bất kỳ một quốc gia nào khác, bằng bất kỳ một hình thức, tính chất nào. Như vậy, có thể thấy rõ với chính sách quốc phòng như vậy, Việt Nam không trở thành mối đe dọa đối với bất cứ quốc gia nào trong khu vực và trên thế giới.
Thứ hai, Việt Nam đã và đang nỗ lực tạo lập, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định của khu vực và trên thế giới.
Những năm qua, Việt Nam tích cực, chủ động nỗ lực ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.
Cụ thể là Việt Nam cùng các nước láng giềng đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả luật pháp và thông lệ quốc tế để giải quyết các bất đồng, tranh chấp đặt ra. Trong đó, Việt Nam đã ký với Lào Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia; ký với Campuchia Hiệp định về vùng nước lịch sử trên biển và Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết các vấn đề về biên giới; ký với Malaysia Thỏa thuận về hợp tác thăm dò, khai thác chung vùng chồng lấn; ký với Thái Lan Hiệp định về phân định ranh giới biển; ký với Trung Quốc Hiệp ước về biên giới trên đất liền và Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ; ký với Indonesia Hiệp định về phân định ranh giới thềm lục địa...
Hiện nay, việc giải quyết các tranh chấp giữa Việt Nam với các quốc gia khác, trong đó có vấn đề chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam luôn kiên định, kiên trì lập trường giải quyết bất đồng thông qua biện pháp hòa bình, đối thoại, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; trước hết là thực thi hiệu quả và đầy đủ Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Tuyên bố 6 điểm ngày 20-7-2012 của ASEAN về Biển Đông; đồng thời, Việt Nam đang tích cực hợp tác, đàm phán, tiến tới cùng các nước hữu quan xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) nhằm duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không; tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Thứ ba, Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, phản đối xung đột quân sự, chiến tranh, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược trong suốt chiều dài mấy nghìn năm lịch sử để có được độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ và môi trường hòa bình, ổn định như ngày nay. Vì thế, Đảng, Nhà nước Việt Nam nhận thức rất rõ sự cần thiết và thấu hiểu được giá trị to lớn của hòa bình, ổn định đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Dân tộc Việt Nam luôn mong muốn được chung sống hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các dân tộc khác và cần có môi trường hòa bình, ổn định để tiếp tục xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Nhân dân Việt Nam không muốn có xung đột, chiến tranh vì điều đó dẫn đến những tổn thất, đau thương, mất mát to lớn cho không chỉ một phía. Việt Nam đang nỗ lực tạo lập, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước và khu vực; song Việt Nam cũng quyết không sợ chiến tranh xâm lược từ nước khác, sẵn sàng tiến hành các hoạt động quốc phòng, quân sự cần thiết để tự vệ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.
Trong bối cảnh phức tạp của tình hình quốc tế hiện nay, Việt Nam nhận thức rõ trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của quốc gia, dân tộc, cần phải đấu tranh; trong mỗi đối tượng có thể có mặt cần tranh thủ hợp tác, thuyết phục, nỗ lực thúc đẩy hợp tác, giảm bất đồng, xung đột để đạt lợi ích cao nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việt Nam thực hiện phương châm "bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy"; chủ động phòng ngừa, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.
Thứ tư, Việt Nam tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh một cách hợp lý, chính đáng, không cổ xúy chạy đua vũ trang.
Quốc phòng, an ninh luôn là những lĩnh vực trọng yếu, quyết định đến thành bại, thịnh suy của mỗi quốc gia, dân tộc, không phân biệt thể chế chính trị và trình độ phát triển.
Là một quốc gia đang phát triển, có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế, lại luôn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam xác định phát triển đất nước nhanh, bền vững, gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại là trọng yếu, thường xuyên.
Trong những năm gần đây, xuất phát từ yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, phát triển công nghiệp quốc phòng, hiện đại hóa LLVT; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vì vậy, Việt Nam có sự quan tâm đúng mức, hợp lý trong đầu tư ngân sách và các nguồn lực khác cho củng cố quốc phòng, an ninh.
Từ những lý giải trên, cần khẳng định Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế. Trong bối cảnh phải đối phó với nhiều thách thức, mối đe dọa về quốc phòng, an ninh từ cả bên ngoài và bên trong, để bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, Việt Nam đã và đang đầu tư một nguồn lực nhất định, phù hợp với nhu cầu và khả năng của đất nước để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Điều này là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam. Do đó, mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt xoay quanh việc chi ngân sách quốc phòng, an ninh của Việt Nam đều là những trò hề, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và không hề lừa gạt được những người Việt Nam yêu nước chân chính./.

THỦ ĐOẠN “HẠ THẤP NGƯỜI ĐI TRƯỚC, TÂNG BỐC NGƯỜI ĐẾN SAU” NHẰM GÂY KÍCH ĐỘNG, CHIA RẼ VÀ XÉT LẠI LỊCH SỬNhững ngày gần đ...
23/06/2025

THỦ ĐOẠN “HẠ THẤP NGƯỜI ĐI TRƯỚC, TÂNG BỐC NGƯỜI ĐẾN SAU” NHẰM GÂY KÍCH ĐỘNG, CHIA RẼ VÀ XÉT LẠI LỊCH SỬ
Những ngày gần đây khi gần đến ngày mất của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, mình đọc được không ít những luận điểm cố tình hạ thấp những gì mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm, đồng thời, tâng bốc so sánh quá đà những gì mà Tổng bí thư Tô Lâm đã xây dựng trong thời gian vừa qua. Mục đích của chúng chính là gây ra sự chia rẽ trong nhân dân, kích động sự xét lại lịch sử, gây ra sự hoài nghi trong đường lối của Đảng.
Chúng đánh giá những gì mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là giáo điều, thiên về tuyên giáo, bảo thủ và không biết làm kinh tế. Còn chúng cho rằng Tổng bí thư Tô Lâm là người nhanh nhạy, thực tế.
Chúng đóng vai những người “trung lập” đứng giữa hai phe. Một phe ủng hộ Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, một phe là ủng hộ Tổng bí thư Tô lâm Tô Lâm, nhằm tạo ra sự tranh cãi, mất đoàn kết. Chúng biết thừa là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có rất nhiều tình cảm của người dân. Còn Tổng bí thư Tô Lâm mới nhận chức chưa được một năm, đưa ra nhiều chính sách gấp rút, nhanh mạnh và đang chờ thời gian để chứng minh. Điều đúng đắn ở đây là không có phe nào cả, các đời Tổng bí thư có những định hướng mang dấu ấn riêng. Và họ cũng theo đuổi cả những định hướng chung là tiếp tục xây dựng con đường đưa Việt Nam tiến lên và phát triển giống như các đời lãnh đạo khác.
Thực tế, chúng tâng bốc Tổng bí thư Tô Lâm không phải là vì chúng coi trọng những gì mà Tổng bí thư Tô Lâm đã làm trong thời gian vừa qua. Tại những bài viết khác, chúng sẵn sàng chửi Tổng bí thư Tô Lâm với những từ ngữ như “bò dát vàng” hay “công an trị”.
Những gì mà chúng làm không khác gì những hành vi xét lại lịch sử vào giai đoạn cuối khi Liên Xô sụp đổ. Mục đích của chúng không chỉ nhằm vào các đời Tổng bí thư, mà chúng nhằm là chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng muốn làm giảm đi sự uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, gây mâu thuẫn và chia rẽ trong nhân dân, xét lại thành quả của người đi trước, tạo dư luận không tốt gây áp lực vào người đi sau.
Người đi trước là nền tảng. Người đi sau là kế thừa, phát huy và để lại nền tảng cho người tiếp nối khác nữa. Trên con đường phát triển, không có ai có thể đi một mình mãi mãi, cũng chẳng có ai không hưởng lại thành quả của người đi trước.

19/06/2025

Tổng thống Mỹ Trump đã duyệt kế hoạch tấn công Iran

“TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH LÀ THỨ VŨ KHÍ SẮC BÉN NHẤT, NÓ GIÚP CHO ĐẢNG TA MẠNH VÀ NGÀY CÀNG THÊM MẠNH. NHỜ NÓ MÀ CHÚNG TA...
18/06/2025

“TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH LÀ THỨ VŨ KHÍ SẮC BÉN NHẤT, NÓ GIÚP CHO ĐẢNG TA MẠNH VÀ NGÀY CÀNG THÊM MẠNH. NHỜ NÓ MÀ CHÚNG TA SỬA CHỮA KHUYẾT ĐIỂM, PHÁT TRIỂN ƯU ĐIỂM, TIẾN BỘ KHÔNG NGỪNG”
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết nói về phê bình trong Đảng; đăng trên Báo Nhân dân, số 468, ngày 14 tháng 6 năm 1955 với bút danh CB. Đây là thời điểm đất nước vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh; miền Bắc mới bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, kiến thiết đất nước, còn nhiều khó khăn, thử thách, miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Lời dạy của Bác có ý nghĩa to lớn, khẳng định tự phê bình và phê bình là nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là thứ vũ khí sắc bén, giúp cho Đảng ta ngày càng mạnh thêm. Thông qua tự phê bình Đảng mới gột rửa được những hạn chế, yếu kém, những thói hư tật xấu, làm cho dân tin, dân theo Đảng; đồng thời nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao bản lĩnh chính trị, ngăn ngừa biểu hiện tự cao, tự đại, mạnh dạn công khai tự phê bình, chân thành tiếp thu sự phê bình của người khác. Chống biểu hiện khi phê bình, giáo dục nhưng vẫn bảo thủ, trì trệ... Thực hiện tốt việc tự phê bình và phê bình chính là góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Quán triệt sâu sắc lời dạy của Bác Hồ, Đảng ta đã không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao chất lượng, hiệu quả tự phê bình và phê bình; tiếp tục lãnh đạo, quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, bảo đảm cho Đảng ta thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, đáp ứng sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Đảng bộ Quân đội luôn nêu cao ý thức chính trị; gương mẫu đi đầu trong triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII, XIII về công tác xây dựng Đảng, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tăng cường công tác quản lý, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ đảng viên; đề cao tinh thần đấu tranh, thực hành tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng; coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, xây dựng sự đoàn kết, thống nhất nội bộ; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, thờ ơ, vô cảm… xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu , cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “Mẫu mực, tiêu biểu “./.

HÃY LÀ NGƯỜI DÂN LƯƠNG THIỆN!Màn comeback khá ồn ào của anh công an tuột xích Lê Chí Thành - người vừa đi cải tạo dưới n...
18/06/2025

HÃY LÀ NGƯỜI DÂN LƯƠNG THIỆN!
Màn comeback khá ồn ào của anh công an tuột xích Lê Chí Thành - người vừa đi cải tạo dưới nhà tù XHCN 3 năm về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
Một idol mạng điển hình, làm công an nghiệp vụ không thấy giỏi nhưng livestream thì nhất sever luôn. Cũng may hồi ảnh còn ở ngoài, mấy kênh online bán hàng tiktok chưa phát triển chứ nếu không vài hôm thấy ảnh diện đồ ngành livestreams bán hàng thì cũng đau đầu thật.
Thôi, cháu ạ, cái gì cũng có giá của nó, cháu không còn được làm Công an nữa nhưng vẫn là một công dân. Hãy học làm người lương thiện, để trở thành “dân lương thiện”, chứ đừng làm idol mạng nữa!

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - NHÀ BÁO LỚN, NGƯỜI THẦY VĨ ĐẠI CỦA BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAMChủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt N...
18/06/2025

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - NHÀ BÁO LỚN, NGƯỜI THẦY VĨ ĐẠI CỦA BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên sử dụng báo chí như một vũ khí sắc bén và có hiệu lực to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Người đặt những viên gạch đầu tiên trên hành trình tìm đường cứu nước khi nhìn thấy sức mạnh to lớn từ báo chí và sau này trở thành người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng là người chiến sỹ tiên phong trên mặt trận này.
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng
Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng là một nội dung quan trọng và đặc sắc, thể hiện tầm nhìn lớn và những quan điểm, triết lý sâu sắc về bản chất, đặc trưng, chức năng, nhiệm vụ của báo chí cách mạng.
Đấu tranh giành quyền tự do ngôn luận
Từ rất sớm trên con đường cách mạng của mình, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đấu tranh để giành quyền tự do ngôn luận - một trong những quyền cơ bản thiêng liêng của con người - về cho số đông quần chúng, sau đó hướng dẫn và cùng với nhân dân dùng quyền đó để xây dựng một chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn, nhân văn và phát triển.
Điều thứ ba trong 8 điều Yêu sách của nhân dân An Nam, Nguyễn Ái Quốc đòi cho nhân dân Việt Nam nói riêng và nhân dân các dân tộc bị áp bức nói chung quyền được “Tự do báo chí và ngôn luận.”
Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, trên cương vị Chủ tịch nước, Người nhấn mạnh thêm, báo chí - đã là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - có vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng, chấn hưng đất nước.
Khẳng định vai trò to lớn của báo chí
Trong thư “Gửi anh em văn hóa và trí thức Nam Bộ” ngày 25/5/1947, Người khẳng định: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà.”
Tháng 6/1949, trong “Thư gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng”, Người căn dặn: “Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung”
Tiếp đó, trong “Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam (ngày 8/9/1962), Người khẳng định: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”.
Đề cao tính đảng của báo chí cách mạng
Là người đặt nền móng cho sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam, làm tiền đề cho sự sáng lập một chính đảng cách mạng ở Việt Nam, Người luôn nhấn mạnh đến việc quán triệt tính đảng gắn với tính nhân dân của báo chí cách mạng.
Trong “Bài nói tại Đại hội lần thứ II Hội nhà báo Việt Nam” (ngày 16/4/1959), Người nhấn mạnh rằng: “Báo chí của ta thì phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới”. “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ.”
Lấy việc phục vụ nhân dân làm tiêu chí cao nhất
Nhấn mạnh đến tính nhân dân của báo chí, Người chỉ rõ: “Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng”, do đó, để phục vụ tốt nhân dân, thì cách viết bài báo phải đơn giản, dễ hiểu, ngôn ngữ phải trong sáng; viết để phục vụ nhân dân thì nhất định phải chọn cái gì có lợi cho dân và phục vụ sự nghiệp cách mạng.
Báo chí cách mạng Việt Nam luôn tuân thủ vai trò và trách nhiệm của mình trong tuyên truyền, lấy việc phục vụ nhân dân làm tiêu chí cao nhất cho hoạt động, suy rộng ra là phục vụ mọi công việc của Đảng, của đất nước. Người chỉ rõ: “Không riêng gì viết sách viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân.”
Có thể khẳng định, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tính nhân dân, dân tộc và tính đảng của báo chí cách mạng luôn được đặt trong một chỉnh thể, có mối quan hệ biện chứng. Nói cách khác, việc nhấn mạnh đến tính đảng là cơ sở để khẳng định về tính nhân dân của báo chí cách mạng Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong suốt quá trình cách mạng, báo chí-truyền thông Việt Nam không ngừng trưởng thành về mọi mặt.
Nhiều thế hệ nhà báo, phóng viên là lực lượng nòng cốt trên mặt trận tư tưởng-văn hóa, đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Khẳng định vai trò to lớn của báo chí cách mạng trong thời gian gần đây, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Báo chí đã làm rất tốt công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chủ trương, định hướng lớn của Đảng về “Kỷ nguyên mới,” về cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, về nỗ lực, quyết tâm xử lý các “điểm nghẽn” đang cản trở sự phát triển của đất nước.
Qua đó, báo chí cách mạng Việt Nam đã thực sự hòa mình vào dòng chảy của thực tiễn cuộc sống, thể hiện rõ vai trò dẫn dắt tư tưởng và đồng hành với những bước đi lớn của Đảng, tạo sự lan tỏa niềm tin, trách nhiệm, khát vọng phát triển trong mọi tầng lớp Nhân dân.
Những đóng góp ấy không chỉ là thành quả lao động sáng tạo mà còn là minh chứng cho bản lĩnh, trí tuệ, và trách nhiệm xã hội của đội ngũ báo chí trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình”.
Nhà báo lớn Hồ Chí Minh
Không thừa nhận là một nhà báo chuyên nghiệp, song trong cuộc đời 79 mùa xuân của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh có tới hơn 50 năm làm báo.
Tính từ bài báo đầu tiên đăng trên tờ báo Đời sống thợ thuyền năm 1917 ở Pháp đến bài báo sau cùng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh viết là bài “Thư trả lời Tổng thống Mỹ Richard Milhous Nixon” (Báo Nhân Dân, ngày 25/8/1969) (có tài liệu ghi là bài "Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng", ký tên T.L, đăng trên báo Nhân Dân ngày 1/6/1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một sự nghiệp làm báo kéo dài 52 năm.
Người đã để lại một di sản báo chí lớn với hơn 2.000 bài báo các loại, gần 300 bài thơ, gần 500 trang truyện và ký… thể hiện qua hơn 170 bút danh, viết bằng nhiều thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, Nga, Hán…
Từ bài báo đầu tiên đăng trên tờ La Vie Ouvrière (“Đời sống thợ thuyền”) năm 1917 tại Pháp đến những bài viết cuối cùng trên Báo Nhân Dân năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng minh vai trò của một nhà báo cách mạng tiên phong, người sử dụng ngòi bút như một vũ khí sắc bén phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Những năm đầu hoạt động ở Pháp, Người đã viết nhiều bài báo quan trọng như “Tâm địa thực dân”, “Vấn đề dân bản xứ”, đặc biệt là “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hội nghị Versailles năm 1919 - bài viết đánh dấu bước ngoặt trong tư duy và hành động cách mạng của Người.
Đồng thời, Người cũng nhận ra rằng, để có thể sử dụng báo chí như một vũ khí tư tưởng sắc bén hơn nữa, thì cần phải tự lập nên một tờ báo riêng. Theo đó, tháng 2/1922 Người sáng lập báo Le Paria (Người cùng khổ) - tiếng nói của Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa. Trong quá trình tham gia Le Paria, Người đã viết hàng chục bài mang tính chiến đấu cao, định hướng phong trào cách mạng thuộc địa trên toàn thế giới.
Năm 1925, Người sáng lập Báo Thanh niên - cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Sự kiện xuất bản báo Thanh niên không chỉ là cột mốc đánh dấu sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam, mà khởi đầu cho hành trình vẻ vang của báo chí cách mạng Việt Nam 100 năm qua. Những bài báo trên Thanh niên góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa Marx-Lenin, chuẩn bị tư tưởng, tổ chức và lực lượng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930.
Sau khi trở về nước năm 1941, Người sáng lập Báo Việt Nam độc lập (1941-1942). Đây là tờ báo đầu tiên trong vùng căn cứ địa cách mạng. Với báo Việt Nam độc lập, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chuyển từ phong cách làm báo lý luận (tuyên truyền chủ nghĩa Marx-Lenin, nhận thức về chế độ thực dân và phương pháp cách mạng) của báo Thanh niên sang phong cách giản dị, gần gũi với quần chúng, với đồng bào các dân tộc thiểu số; đồng thời mở ra loại hình “báo của các tổ chức quần chúng” bên cạnh hệ thống báo chí cách mạng của các tổ chức Đảng.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên cương vị Chủ tịch Chính phủ lâm thời và sau đó là Chủ tịch nước, Người vẫn đều đặn viết báo. Người tiếp tục sử dụng báo chí như một công cụ quan trọng để vận động toàn dân kháng chiến, kiến quốc.
Từ các bài xã luận, lời hiệu triệu, thư gửi đồng bào, đến các bài viết ngắn gọn, dễ hiểu trên các tờ báo như Cứu quốc, Sự thật, Nhân dân, Người không ngừng cổ vũ tinh thần yêu nước, đoàn kết, hy sinh vì độc lập tự do.
Đặc biệt, Báo Cứu quốc - cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh - đã nhiều lần đăng bài của Người với bút danh chiến sỹ cách mạng giản dị như “Chiến Thắng” “Đ.X.” “Q.T.”,...
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo, định hướng nội dung cho nhiều tờ báo kháng chiến. Báo chí trở thành một kênh truyền thông chiến lược phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ và xây dựng niềm tin trong Nhân dân.
Khi Báo Nhân Dân ra đời năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên có bài viết đăng trên báo. Nhiều bài viết nổi bật mang tính chỉ đạo, nêu gương, giáo dục như: “Người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải như thế nào?”, “Đạo đức cách mạng”, “Cần kiệm liêm chính”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng”...
Đồng thời, Người còn gửi thư chúc Tết, thư khen ngợi các điển hình tiên tiến, thư động viên chiến sĩ nơi tuyến đầu… Qua đó, báo chí không chỉ là vũ khí đấu tranh mà còn là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ với Nhân dân.
Có thể thấy, ngòi bút Hồ Chí Minh, từ khi bôn ba tìm đường cứu nước cho đến những năm cuối đời, luôn nhất quán một lý tưởng: viết để chiến đấu, để thức tỉnh, để giáo dục, để kết nối triệu trái tim con dân đất Việt vào một khối đại đoàn kết vững chắc. Chính sự nghiệp báo chí ấy đã tạo nên hình tượng một nhà báo cách mạng vĩ đại.
Người thầy vĩ đại của báo chí cách mạng Việt Nam
Không chỉ là người sáng lập báo chí cách mạng Việt Nam, là tác giả của một khối lượng lớn các tác phẩm báo chí, đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có những lời chỉ dạy sâu sắc về người làm báo.
Người nhiều lần nhấn mạnh những yêu cầu, những tiêu chí mỗi người làm báo cách mạng Việt Nam cần tâm niệm và thực hiện. Với Người, nền báo chí cách mạng Việt Nam là vũ khí sắc bén của cách mạng, nên cần có những cán bộ cách mạng làm báo với những phẩm chất của một “người cách mệnh” trung thành với lý tưởng, tận tụy với công việc.
Đồng thời, Người luôn nhắc nhở những người làm báo phải chú ý đến đối tượng phục vụ. Muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ của người xem.
Trong thư gửi Báo "Quân du kích" (tháng 7/1949), Người chỉ rõ: “Viết sao cho giản đơn, dễ hiểu, thiết thực. Sao cho mỗi đồng bào, mỗi chiến sĩ đều đọc được, hiểu được, nhớ được, làm được.”
Khi viết thì phải tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết như thế nào? Sự nghiệp báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời rất thuyết phục những câu hỏi đó.
Đọc lại những bài nói, bài viết của Người, dễ nhận ra sự trong sáng về văn phong, sự giản dị trong cách trình bày để nội dung dù khó và phức tạp cũng trở nên dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo.
Với mỗi đối tượng cụ thể, trong những văn cảnh cụ thể, Người lại có cách nói, viết phù hợp. Nếu đối tượng là người nước ngoài, Người có cách viết rất “Tây”, sâu xa, châm biếm, hài hước, ý nhị.
Với nhân dân Việt Nam, Người lại nói và viết rất giản dị, mộc mạc, gần gũi. Với các nhà trí thức, văn nghệ sỹ, Người lại bàn về những lời răn dạy của các bậc tiên hiền, bàn về những vấn đề của khoa học, của thơ ca và nghệ thuật…
Có thể nói, cách làm báo, viết báo đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ chuyển tải tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn khắc họa sâu sắc phong cách của Người.
Và phong cách báo chí độc đáo của Người mãi mãi là người thầy vĩ đại của báo chí cách mạng Việt Nam. Một thế kỷ đã trôi qua kể từ “ngọn lửa” đầu tiên của tờ Báo Thanh niên được Người “thắp” lên, tinh thần báo chí cách mạng, tinh thần Hồ Chí Minh vẫn luôn “cháy” sáng trong từng trang viết, từng khuôn hình của những người làm báo hôm nay.
Từ tư tưởng đến hành động, từ lý luận đến thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đặt nền móng mà còn hình thành nên hệ giá trị cốt lõi của người làm báo cách mạng
Tư tưởng đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị, là kim chỉ nam cho đội ngũ những người làm báo trong thời đại mới, để báo chí cách mạng Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng-văn hóa, đồng hành cùng sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

BÁO CHÍ TRƯỜNG CHINH CÙNG DÂN TỘC BÀI 1: NGỌN CỜ TẬP HỢP QUẦN CHÚNGTrong dòng chảy lịch sử dân tộc, giai đoạn 1930 - 194...
18/06/2025

BÁO CHÍ TRƯỜNG CHINH CÙNG DÂN TỘC BÀI 1: NGỌN CỜ TẬP HỢP QUẦN CHÚNG
Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, giai đoạn 1930 - 1945 có vị trí đặc biệt với sự biến đổi về chất của cách mạng Việt Nam khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đây cũng là giai đoạn oanh liệt của báo chí cách mạng Việt Nam, có nhiều thành tựu, dấu ấn quan trọng.
Làm báo trong lao tù
Sau sự ra đời của báo Thanh Niên năm 1925, dòng báo chí cách mạng tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Lúc này, chính quyền bảo hộ trong nước thắt chặt quyền tự do báo chí, tăng cường gắt gao việc khủng bố, đàn áp các phong trào cách mạng và yêu nước. Nhiều tờ báo ra đời ở Trung Quốc, Liên Xô, Thái Lan… vừa tuyên truyền tư tưởng cách mạng vừa đảm nhận vai trò quan trọng trong tổ chức và kết nối các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử dân tộc cũng như sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với nền báo chí cách mạng. Quan điểm chung của Đảng về lãnh đạo công tác báo chí thời kỳ này là: báo chí là phương tiện thống nhất tư tưởng, ý chí và hành động trong toàn Đảng. Việc xuất bản báo chí bí mật rồi tiến tới công khai được đưa vào nghị quyết của các hội nghị Trung ương, các xứ ủy và từng bước trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Các tổ chức quần chúng như Công hội, Nông hội, Thanh niên cộng sản đoàn, Hội Phụ nữ, Hội Cứu tế… đều xuất bản báo để vận động cách mạng trong giai cấp, tầng lớp mình.
Theo nguyên Giám đốc Bảo tàng Báo chí Việt Nam Trần Thị Kim Hoa, giai đoạn cách mạng oanh liệt này cũng đồng thời là giai đoạn oanh liệt của báo chí cách mạng Việt Nam, với nhiều thành tựu, bài học quý giá. Nhiều tờ báo mang tính chiến đấu mạnh mẽ được quần chúng nhân dân và các chiến sĩ cách mạng nhiệt liệt đón chờ, dù phải chấp nhận nguy hiểm từ phía kẻ thù. Hầu hết lãnh tụ cách mạng đều kiêm luôn nhiệm vụ tổ chức làm báo, viết báo, xuất bản báo chí, tiêu biểu là nhà báo - lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Nguyễn Đức Cảnh…
Đại tá, PGS. TS Nguyễn Văn Sáu, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam cho rằng, đặc sắc của báo chí giai đoạn này là một số nhà tù, chi bộ chủ trương ra báo. Có thể kể đến nhà tù Hỏa Lò Hà Nội với Con đường chính, Lao tù tạp chí, Đuốc đưa đường, Đường cách mạng; nhà tù ở Buôn Ma Thuột với tạp chí Doãn đê; nhà tù Côn Lôn với Người tù đỏ, Qua tiếng sóng hận, Hòn Cau, Ý kiến chung… Điều kiện ra báo trong tù rất khó khăn, địch kiểm soát từng mẩu giấy nên ở một số nơi như nhà lao Vinh đã sáng tạo ra hình thức báo nói, không cần in, không cần viết nhưng được chuẩn bị công phu và cử người có giọng hay, lưu loát đọc nên rất dễ hiểu, đi vào lòng người.
“Báo in thời kỳ này vẫn sử dụng các phương tiện thủ công, thô sơ. Do phải đối phó với địch truy lùng, phải bảo vệ cơ sở bí mật và kịp thời di chuyển, nên hầu hết báo và tạp chí đều xuất bản không định kỳ. Trong điều kiện hoạt động bí mật, bất hợp pháp nên khuôn khổ mỗi tờ báo trong các số không đều nhau, loại giấy không thống nhất, có nhiều loại, khổ to nhỏ. Quá trình vận hành xuất bản báo không phải lúc nào cũng nhịp nhàng. Nhiều khi có đủ bài nhưng vật tư in thiếu, phải chậm lại, thậm chí có giấy nhưng chưa mua được mực. Việc phát hành phải được tổ chức chặt chẽ, khoa học, tránh rơi vào tay địch”, PGS. TS Nguyễn Văn Sáu chỉ ra khó khăn trăm bề của báo chí giai đoạn 1930 - 1945.
Bồi dưỡng cao trào cách mạng
Theo cố nhà báo Hoàng Tùng, vai trò của báo chí cách mạng càng trở nên nổi bật và trọng yếu trong giai đoạn chuẩn bị và tiến hành Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Từ tháng 3 - 8/1945, báo chí đã góp phần quan trọng bồi dưỡng cao trào cách mạng, tạo ra khí thế tiền khởi nghĩa sôi sục trong cả nước. Điều kiện hoạt động của báo chí lúc này cũng thuận lợi hơn trước, nhiều tờ báo được in bằng máy, chữ chì, giấy tốt hơn và số lượng phát hành cao hơn.
Các tờ báo như Cờ Giải phóng (cơ quan Trung ương của Đảng) và Cứu quốc (cơ quan của Tổng bộ Việt Minh) trở thành “cẩm nang” cho các chiến sĩ cách mạng. Cờ Giải phóng giống như cuốn sách bỏ túi, người hướng dẫn tổng khởi nghĩa. Việc sở hữu những tờ báo này giúp nâng cao uy tín của cán bộ, bởi quần chúng tin rằng họ là những người nắm bắt được chủ trương, đường lối của Việt Minh và Đảng Cộng sản.
“Báo chí bí mật của Đảng và các đoàn thể cách mạng khác bị địch khủng bố rất ác liệt, vẫn tiếp tục tồn tại, tuy xuất bản không đều kỳ, số bản in có hạn nhưng tác dụng tuyên truyền giáo dục rất rộng rãi. Một tờ báo được chuyền tay nhau đọc cho đến nhàu nát. Những hình thức tuyên truyền, giáo dục có hiệu quả vẫn là nói trực tiếp và qua báo chí”, trích lời cố nhà báo Hoàng Tùng trong bài viết Báo chí trong cách mạng tháng Tám đăng trên Báo Nhân dân ngày 19/8/1995.
Để thúc đẩy cao trào tiến tới Tổng khởi nghĩa, nhiều tờ báo tiếp tục ra đời, dồn dập thông tin tuyên truyền cách mạng. Tháng 12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, tờ báo viết tay Tiếng súng reo ra đời. Đây là tờ báo đầu tiên của lực lượng vũ trang, nhằm cổ vũ ý chí quyết chiến quyết thắng của quân và dân ta, kịp thời phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục và huấn luyện bộ đội, tạo niềm tin trong nhân dân. Ngày 20/6/1945, tờ Nước Nam mới của Khu Giải phóng Việt Bắc ra số 1, đến số 7 ngày 1/9/1945 là số cuối cùng. Trên đầu trang 1 các số báo, bên cạnh măng sét có lời hiệu triệu ngắn gọn, đóng khung: “Hỡi quân dân toàn khu! Hãy kiên quyết đánh lùi sự tiến công của giặc Nhật, bảo vệ lấy chính quyền cách mạng!”, “Muốn chống sự tiến công của giặc Nhật, phải một mặt giải thích, một mặt đánh!”…
Có thể thấy, giai đoạn 1930 - 1945, dưới sự dẫn dắt của Đảng Cộng sản, báo chí như một ngọn cờ tập hợp quần chúng, thúc đẩy tiến trình cách mạng. Đại tá, PGS. TS Nguyễn Văn Sáu nhận định: “Ngay từ khi ra đời, Đảng đã nhận rõ tầm quan trọng của báo chí và quan tâm chú ý đề ra những quan điểm, chủ trương chỉ đạo công tác báo chí phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Và báo chí từ khi có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng đã tham gia trên tất cả các mặt trận chiến đấu, khi bị lùng bắt vì không hợp pháp, xuất bản công khai nửa hợp pháp và hợp pháp, nhưng cuối cùng, báo chí cách mạng đã giành được thắng lợi rực rỡ”./.

Address


Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Theo dòng sự kiện posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Theo dòng sự kiện:

  • Want your business to be the top-listed Media Company?

Share